TÌM KIẾM TÀI NGUYÊN

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

Thư viện đề thi
Thư viện giáo án
Phần mềm giáo dục
Thư viện bài viết
Hình ảnh và bài giảng

XEM NGÀY VÀ GIỜ


TRA TỪ ĐIỂN BẠN THÍCH

TÌM VỚI GOOGLE


Tra theo từ điển:



LIÊN KẾT XEM ĐIỂM THI

LIÊN KẾT WEBSITE

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Quản trị: Đào Tiến Tuyến
0948086626
(

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • KHÁCH ĐẾN THĂM NHÀ

    0 khách và 0 thành viên

    BÌNH CHỌN TRANG WEB

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    HÌNH ẢNH THƯ VIỆN

    Images11.jpg Thiepdauxuan2.swf ChucTet_NhamThin6.swf Flash_chuc_tet_2012.swf Flash_chuc_tet_2012.swf 1111.swf 12206097643.jpg DVD1S2M009.jpg Xakhoi12.swf ThamBenNhaRong.mp3 DSC04005.jpg ChucTet.swf Chuc_mung_nam_moi7.swf Chuc_mung_nam_moi3.swf Ly_ruou_mung1.swf A011.jpg Happy_new_year.swf Qua_tang.jpg 2.jpg Ca_mau1.swf

    Finance Banking http://daotientuyen.violet.vn/entry/list/cat_id/528140 vnstudy.net http://daotientuyen.violet.vn/
    Gốc > TỦ SÁCH THƯ VIỆN >

    Có một thời như thế (tái bản lần 4)


    Cuộc đời vốn thế, một khi tiếng đập trống rỗng của những chiếc dạ dày tạm lắng xuống thì tiếng động thì thầm của những giá trị cội nguồn lại vang lên.

    Và một trong những tiếng động ấy là sự trở lại cũng thì thầm và vô cùng bền bỉ của dòng văn học chiến tranh mà sự xuất hiện rộn ràng của những trang nhật ký chiến trận mấy năm gần đây âu cũng là lẽ đương nhiên, đương nhiên như hết mưa lại nắng, hết bão dông cõi thế lại yên hàn, đương nhiên như đó là những tháng ngày thiêng liêng, những tháng ngày cao đẹp nhất của dân tộc, của mỗi số phận con người mà đất nước này, khung cảnh thái hoà này mãi không thể nào quên.

     



    Vâng! Nhật ký của một người đã chết, một người nằm xuống ta đọc đã nhiều, song nhật ký của một người còn sống thì không phải ở đâu cũng có, nếu như không muốn nói rằng nó là vô cùng hy hữu. Những dòng chữ của một liệt sĩ để lại, bản thân nó đã hàm chứa một nỗi xúc động sâu xa, vậy những dòng chữ của một chiến sĩ vẫn còn tồn tại trên cõi dương này sẽ tồn tại ra sao đây, khi nó tự đánh mất cái ưu thế truyền cảm mang tính truyền thống tâm linh đó, trước cảm nhận của độc giả? Bài toán này không dễ trả lời, vì dù muốn hay không, nó cũng động chạm đến những phần nhạy cảm nhất của con người. Bởi, trước khi chết, con người bao giờ cũng nói thật mọi điều, nói cả điều hay lẫn điều dở cho nên nó thật đến không cùng. Mà đã gọi là nhật ký thì bao giờ cũng lấy cái thật làm hạt nhân trung tâm. Còn khi anh vẫn sống, ngồi viết lại, dù chân thành đến mấy, ngòi bút cũng không thể tách khỏi cái sự lọc bằng lý trí qua các yếu tố khách quan, yếu tố tự biên tập cho nó thích hợp với điều này, hợp lý với tình hình kia. Khó lắm! Dễ khô cứng, dễ giả tạo lắm.

    Vậy mà không! Với Có một thời như thế, người viết đã biết ẩn mình đi, ẩn rất kỹ, ẩn chân thành, ẩn như không, gần ba trăm trang sách, anh chỉ coi mình như là một nhân chứng, một cái trục nhỏ nhoi để từ đó dồn hết tâm sức, trí nhớ để viết, đúng hơn là để kể lại về đồng đội, bạn bè, về những người đã chết và những người đang sống, về cuộc đời, bom đạn, về tình người, tình yêu, tình gia đình cha mẹ bình dị, khẽ khàng như hạt lúa, củ khoai đang vào mùa giáp hạt khiêm nhường.

    Không đao to búa lớn, không lên gân lên cốt, cũng không cố làm ra vẻ văn chương, chữ nghĩa cầu kỳ, càng không biết tránh né những điều có thể là phạm huý phạm kỵ, anh cứ lẩn mẩn kể như kể lại cho người thân, bạn bè nghe về những chặng đường gian truân, ác liệt của cuộc đời mình, cuộc đời đồng đội. Và như thế, từng dòng, từng trang, từng con chữ, nó như những hạt mưa dầm không ồn ào, xối xả mà nhè nhẹ thấm thật sâu vào cảm nhận người nghe, người đọc.

    Đọc anh, tin rằng những người trẻ hôm nay sẽ tìm ra được một cái gì đó thuộc về sức mạnh tinh thần, cũng như những giá trị nhân văn thăm thẳm của các thế hệ cha anh, đã không tiếc máu xương làm nên những chiến tích huy hoàng cho ngày hoà bình thơ thới hôm nay, qua đó, chắc chắn họ sẽ giật mình mà soi rọi lại cảm quan, cách cảm, cách nghĩ, cả cách sống của mình trong cơn cuồng phong hội nhập hiện đương. Và những người đã đi qua chiến cuộc chắc chắn sẽ như được sống lại, như được nhìn thấy, sờ thấy, ngửi thấy những tháng ngày thiêng liêng, khổ đau, đẫm máu và nước mắt để thực hiện khát vọng tự do, độc lập của dân tộc.

    Là người đã viết khá nhiều về chiến tranh, đã lấy hình tượng người lính và chiến tranh cách mạng làm cảm hứng trung tâm cho các tác phẩm của mình, thú thật có lúc đọc anh, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước những trang chữ anh miêu tả về cảnh sắc Trường Sơn với tất cả sự sinh động của những vui buồn, đói khổ, một trận sốt rét, một vị ngọt rau môn thục, một tử sĩ mối vùi trên võng, một bãi khách đêm, một chiều hành quân, một tiếng chim côi cút gọi bầy, một dòng sông, một sắc nắng, một sườn dốc đứng hành quân bằng thang dây dựng trời. Một tối đói quá phải vào nương ăn cắp sắn… Càng không thể không lắng chìm khi anh viết về mẹ, về một ga tàu tiễn đưa, về những giọt nước mắt yếu đuối không kìm nổi khi từ biệt tất cả để đi vào chỗ chết, về lòng dân thuần phác, mênh mông ba nước Việt - Miên - Lào anh đã có dịp hành quân qua. Để rồi như một sự bung phá của tâm hồn, anh say sưa và đau đớn kể về những trận đánh, về những đêm hành quân quá đỗi nhọc nhằn vừa đi vừa ngủ, về những cái chết đủ hình, đủ dạng của đồng đội mà sự ra đi tức tưởi của họ còn vương nặng trí não anh cho đến tận bây giờ, đã khiến cho anh, một đồng đội may mắn còn sống, không hiểu sao lại còn sống, phải tự đặt lên linh hồn mình một trách nhiệm là phải ghi lại. Ghi lại bằng cả một hệ thống chi chít những chi tiết sống động, độc đáo, có duyên mà nếu không thực sự trải qua, không thực sự sống tận cùng với nó thì không thể nào hình dung ra nổi.

    Chiến tranh là bi kịch, nhưng chiến tranh cũng là bi tráng. Tổn thất đến không cùng, nhưng cũng can tràng đến không cùng. Phải chăng đó chính là cảm hứng chủ đạo, là điều ruột gan anh muốn nói về chiến tranh, về bạn bè mình. Trung đoàn ngày ra đi, ngót nghét gần ba ngàn thanh niên trai tráng, khi trở về chỉ còn có vài trăm, mà lại không vẹn nguyên thân thể. Mỗi mùa chiến dịch, cứ vào một trận đánh là quân số lại vợi đi quá nửa, vợi đến nỗi không còn đủ người vào thay, đến nỗi cả đại đội thay vì hơn một trăm sinh mạng đánh vài trận chỉ còn lại đếm được trên đầu ngón tay… Nhưng những trận đánh vẫn nối tiếp những trận đánh, những chiến dịch vẫn ngày đêm tiến sát hang ổ kẻ thù. Để tồn tại và đứng vững được trong những cảnh huống quá sức chịu đựng của con người ấy, họ đã bộc lộ đủ đầy tất cả những thảng thốt, yếu đuối, hoang mang thậm chí đến nản lòng, tuyệt vọng đưa đến một vài người đã rời bỏ đội ngũ chạy sang phía chiến tuyến bên kia, nhưng rồi một cái gì đó thiêng liêng như lòng tự tôn dân tộc, nghĩa tình thẳm sâu của đồng đội, của khí núi khí sông, của niềm tin vào nghĩa cả thổi về, vón cục trong trái tim đã khiến cho họ chiến đấu uy nghi đến người cuối cùng. Như thế, qua cái nhìn của anh, người trong cuộc, người lính của chúng ta không hề là một cỗ máy chiến đấu, không hề là một Rô bốt chiến binh vô cảm chỉ biết xông lên chứ trong thế giới nội tâm trắng xoá không chứa đựng cái gì.

    Người anh hùng là người không phải không biết sợ chết, nhưng một khi vượt qua được cái sợ chết đó, họ sẽ là người anh hùng. Cũng như chiến tranh thực chất là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình. Đó là sự thật và đó cũng là lửa tôi rèn cho phẩm chất con người Việt Nam đi qua được bao phen dông gió. Chúng ta đồng cảm và chia sẻ với anh về ý nghĩa nhân văn này.

    Như vậy, đây có thể coi là một cuốn hồi ký chân thực của một người lính đã đi qua tận cùng bom đạn, tận cùng yêu thương và căm thù, đã bị thương, đã đi lạc trong rừng cả tuần đến nỗi khi tìm về được đơn vị, vết thương chỉ nhung nhúc những dòi, nhưng vì tất cả độ chân thực đến trần trụi của nó, ta vẫn có thể gọi là một trang nhật ký, nhật ký của người còn sống, dù chỗ này chỗ khác vẫn còn nét vụng về, thô mộc, dàn trải chưa chọn lọc nhưng nó vẫn mang vẹn nguyên sức mạnh đánh động, giá trị truyền cảm như những trang viết của người đã ra đi.

    Đó là những con chữ được viết bằng máu, đó thực sự là một bài ca về người lính mà đọc nó, mỗi người chúng ta không thể không ngoảnh nhìn lại những tháng ngày đã qua để tự hoàn thiện mình, để biết mình đang ở đâu và mình đang được thừa hưởng cái gì. Bởi cái giá phải trả cho ngày hôm qua là không thể lường được.

    Là một người lính già, tôi xin cảm ơn cuốn sách, cảm ơn người lính Võ Minh đã nói hộ với cuộc đời nhiều điều mà cuộc sống xôn xao này rất cần phải nói.



    Lời Tác giả

    Tôi - Một thành viên trong Hội Cựu chiến binh của trung đoàn 271 miền Đông Nam bộ anh hùng. Cách đây 36 năm, nếu tính chính xác là từ ngày 9 tháng 11 năm 1971, hơn 2.600 cán bộ chiến sĩ trung đoàn chúng tôi, chủ yếu từ các miền quê Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và một số nữa là ở các tỉnh khác, rời miền Bắc hậu phương, hành quân cuốc bộ vượt dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, để bổ sung lực lượng chiến đấu cho chiến trường miền Đông Nam bộ.

    Suốt cả một chặng đường dài hành quân, với bao vất vả, khó khăn, gian khổ. Lội suối, trèo đèo, vượt qua những con dốc cao dựng đứng. Tập kích, phục kích, chống càn, chốt chặn, công đồn địch đều từng nếm trải. Bao miền đất lạ chúng tôi đã qua, có rất nhiều đồng đội thân yêu nằm lại đó.

    Chiến tranh quá khắc nghiệt, nó đã ngốn đi không biết bao nhiêu con người và sức lực của chúng ta. Chúng tôi muốn quên đi, muốn chôn nó chặt sâu vào dĩ vãng. Mới ngày nào đó, cả trung đoàn 271 cùng hành quân vào chiến trường. Quân đi nườm nượp chen kín mặt đường Trường Sơn. Nhìn về phía trước, phía sau vẫn không thể nào thấy được người đi đầu hay đi cuối đoàn quân.

    Quân số lúc đó là hơn hai nghìn sáu trăm người. Thế mà giờ đây, ngồi điểm lại, không biết có còn được ba trăm người nữa không? Dẫu biết rằng: Sau gần bốn chục năm, có rất nhiều người do vết thương tái phát, hay di chứng của những cơn sốt rét giữa rừng Trường Sơn hoặc một lý do nào đấy đã đưa họ về thế giới bên kia vĩnh hằng. Để về cùng với tổ tiên, về với những người đồng đội, đã mãi mãi nằm lại ở nơi chiến trường xa mà chưa hề được hưởng một giây phút của ngày toàn thắng, hoà bình, thống nhất đất nước.

    Nhưng vẫn còn đó, những người bố, người mẹ và những thân nhân của những người đã hy sinh, cả cuộc đời còn lại vẫn khắc khoải trông chờ những đứa con rứt ruột đẻ ra, nuôi khôn lớn, đã ra đi mãi mãi không về. Ngay với tôi, có hai người bạn thân thiết là Trần Ngọc Nam và Trần Văn Hồng, cùng học một lớp thời phổ thông, cùng nhập ngũ một ngày, cùng một đơn vị đi vào chiến trường, vừa mới tham gia chiến trận được một thời gian ngắn, hai anh đã nằm lại trên mảnh đất chiến trường, không còn cơ hội để trở về gặp lại bố mẹ và những người thân nữa. Không thực hiện được lời hứa của mình và lời nguyện ước, mong đợi của người cha, người mẹ trong lần gặp cuối cùng, kể từ ngày chia tay các anh trước lúc lên đường ra tuyến lửa:

    - Các con ra đi, chân cứng, đá mềm. Hãy nhớ trở về với bố mẹ! Bố mẹ ở nhà sẽ đợi chờ con!

    Thế mà, các anh đã ra đi mãi mãi, để cho bố mẹ già tuổi đã ngoài tám, chín mươi, còn mang trên mình những căn bệnh hiểm nghèo, vẫn  nén chịu bao đau đớn, gồng mình khắc khoải được sống, mong ngóng chờ đợi đứa con của mình trở về…

    Như bố anh Hồng lúc chuẩn bị về với tổ tiên, ông đã cố gắng gượng một chút sức lực còn lại, gọi vợ và các con đến, chỉ để trăng trối một nguyện ước cuối cùng:

    - Tổ tiên, ông bà đã đến gọi về, bố không còn có điều kiện chờ thêm được nữa. Bà nó và các con cố mà tìm thằng Hồng về nhé…

    "Về đi anh!... về cho mẹ yên lòng". Giờ đây, trong ba đứa chỉ còn lại một mình tôi được may mắn trở về sau cuộc chiến, tuy còn phải mang theo mình bảy mảnh đạn đang nằm trong đầu và một số nữa nằm rải rác trong người.

     Mới ngày nào đấy, đồng đội của tôi còn ngồi chật cả một toa tàu chở hàng, từ ga Cầu Giát vào Vinh, trên đường đi vào mặt trận. Giờ đây, khi kiểm lại chả còn được nhiều người nữa? Nếu như bây giờ chúng tôi tập hợp để lại ngồi vào trong toa tàu ngày ấy, sẽ lọt thỏm vào không gian mênh mông đó.

    Đơn vị do tôi trực tiếp chỉ huy thời đó có 26 người, chủ yếu thuộc vùng quê huyện Nga Sơn, Thanh Hoá, số còn lại ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên… Cuối tháng 2 năm 1974, tôi bị thương phải xa anh em ra miền Bắc điều trị, mấy năm gần đây, mới có điều kiện đi về các địa phương và nhờ các CCB nơi đó tìm lại các anh. Vậy mà…!

    Đặc biệt, có mười người trong cùng một xã Nghi Yên (Nghi Lộc, Nghệ An). Đó là các bạn: Định, Phong, Trúc, Nghiêm, Trung, Nhung, Cam, Luyện, Thiện cùng với chúng tôi ở trong toa tàu ra trận ngày nào. Sau cuộc chiến chỉ còn có hai anh được trở về, mà thực ra bây giờ chỉ còn có một.

    Người còn lại là CCB Hoàng Văn Trung, đã để lại ở chiến trường năm nào một cánh tay. Cuộc sống đời thường của anh quá nhiều khó khăn, giờ lại càng thêm vất vả, nhưng không khuất phục và đầu hàng đói nghèo, tự mình cố gắng vượt lên, để giành chiến thắng.

    Ngay từ những ngày đầu mới ra quân, đã xác định cho mình: Phải cầm bút ôn thi vào đại học. Rồi kết quả đến không phụ sự cố gắng, chịu khó, kiên trì đó, khi trong tay có hai tờ giấy báo trúng tuyển của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Vinh.  Chọn vào học ở trường Vinh để được gần gia đình còn giúp đỡ bố mẹ già yếu. Hiện giờ anh đang là Hiệu trưởng Trường phổ thông cơ sở xã Nghi Yên.

    CCB Nguyễn Văn Nhung, tuy bị thương còn mảnh đạn ở trên đầu, thế nhưng vẫn thi vào được đại học, rồi sau đó đã trở thành một kỹ sư nông nghiệp. Anh có nguyện ước là đem kiến thức của mình, để trở về giúp quê nhà đang còn quá nghèo khó. Nhưng nguyện ước ấy giữa chừng đành dang dở, khi vết thương sọ não trên đầu tái phát, để rồi khuất nẻo theo về với anh em đồng đội đang  nằm lại ở những vùng quê xa.

    Còn lại bảy người nữa đã không được may mắn trở về với bố mẹ, gia đình, mà đành phải nằm lại trên mảnh đất chiến trường xưa. Hài cốt của các anh và cả hai bạn Hồng và Nam, tôi và thân nhân, đồng đội Hội Cựu chiến binh trung đoàn 271 lâu nay vẫn cố gắng kiếm tìm, mãi cho đến bây giờ vẫn chưa có kết quả. Phải chăng, đời người ai rồi cũng trở về cát bụi, trở về với hư vô?

    Nhưng cũng có người được trở về, được gặp cha già mẹ yếu và người thân đấy! Song, cả cuộc đời còn lại chẳng có gì gọi là may mắn cả. Nếu như không nói, còn phải gánh chịu một hậu quả đau khổ đến tột cùng, vượt qua ranh giới phải chịu đựng của con người.

    Không thể không nhắc đến hoàn cảnh của anh Vũ Văn Mô, quê ở xã Cát Bi (Quế Võ, Bắc Ninh), đã mang trong mình một thứ chất độc được gọi là "da cam" từ thời còn ở chiến trường để lại hậu quả, di chứng cho gia đình. Họ phải sống suốt đời trong hoàn cảnh đau khổ, thương tâm. Cả ba con của anh chị sinh ra đều "sống thì ngơ ngẩn, muốn chết cũng chẳng được". Đứa con trai đầu đi học mãi mà không lên được một lớp. Suốt ngày lầm lỳ, không thốt nổi một lời, thỉnh thoảng lại vô thức nhìn về nơi xa xăm vô vọng.

    Còn cháu thứ hai cũng chẳng có gì hơn anh nó. Cũng suốt ngày ngây ngô đập phá mọi thứ vào những lúc cơn động kinh bất ngờ ập đến. Khi  đến tuổi trưởng thành, anh chị đã cưới vợ cho cháu với mong muốn rằng: May ra khi vợ nó sinh con, những đứa trẻ đó may mắn được ông trời thương tình sẽ buông tha, để chúng nó có được cuộc sống bình thường như triệu, triệu người rất bình thường đang sống ở trên đời này, chứ không ngây ngây, dại dại như những đứa con đang còn hiện hữu. Một mong muốn giản đơn và rất chính đáng. Thế mà, tất cả đều đi vào ngõ cụt, khi đứa con thứ hai vừa mới cưới vợ được mấy tháng. Chuyện chỉ xảy ra có một lần, đó là lúc cháu lên cơn động kinh đã không thể nào kiểm soát được bản thân, để rồi kết liễu đời mình bằng một đoạn dây thừng oan nghiệt. Còn cô con gái út tuy đã lớn tuổi, nhưng người vẫn gầy nhom, hai tay co quắp, run run, giật giật. Lúc nào cũng ngây ngô, ngơ ngẩn, nước dãi rớt xuống đầy ngực, suốt ngày chỉ ngửa mặt lên trời cao để cười một mình. Cháu vô tri đến cái tên của mình là gì cũng không biết.

    Cái cùng cực của tâm can và thể xác đã đến tột đỉnh, dồn ép lên những năm tháng cuối đời của họ. Bức bối quá, có lần anh Mô nghẹn ngào tâm sự:

    - Các anh biết đấy, những ngày vượt Trường Sơn bao gian khổ, mang vác nặng, chịu đói lội suối băng đèo, trong chiến đấu không biết bao nhiêu lần phải nằm trong mưa bom, bão đạn, thế mà tôi vẫn chịu được và đã trở về đây. Còn… bây giờ, các anh thấy không? Làm sao có thể chịu thêm được nữa? Giá… giá như ngày ấy ở chiến trường…  được chết đi, như nhiều đồng đội mình, thì ngày nay đỡ đau lòng… Vợ tôi có tội tình gì, mà phải dính dáng chuyện này? Sao lại bắt cô ấy phải gánh chịu chứ?...

    Trước tình cảnh đó, các anh Lâm, Kiệm, Tân … trong Hội Cựu chiến binh trung đoàn 271, đã tìm mọi cách giúp cháu vào làng Hoà Bình Thanh Xuân, Hà Nội.

    Chính vì, chúng tôi là những đồng đội, tình bền chặt gắn kết đã có một thời cùng vào sinh ra tử, sống chết cùng nhau, đã từng không đắn đo giành cái nguy hiểm, gian khổ về mình, đã từng cứu mạng nhau, liều chết cõng nhau vượt qua làn bom đạn địch.

    ...Thủơ ấy, lũ chúng tôi

    Coi nhau như ruột thịt

    Ngọt bùi cay đắng cùng chia

    Viên thuốc cuối cùng, giọt nước cuối cùng, người nọ dúi người kia

    Cao cả thiêng liêng thay, tình đồng đội...

    (Bài thơ viết dở)(1)

    Làm sao có thể ngồi yên, dửng dưng mà sống được, khi những thân nhân liệt sĩ và nhiều đồng đội đang phải gánh chịu những hoàn cảnh khó khăn, trớ trêu như vậy.

    Vì lẽ đó, sau một thời gian trở về đời thường, chúng tôi, đã tự nguyện tập hợp nhau lại, thành lập ra Hội Cựu chiến binh của trung đoàn 271 Anh hùng.

    Là những người may mắn, "sót sổ" được trở về chẳng còn nguyên vẹn sau chiến tranh. Mỗi người một quê, mỗi đứa một nghề trong cuộc sống mưu sinh còn đầy vất vả. Như trong một bài thơ của mình, của anh Lê Cường(1) đã viết:

    Đồng đội tôi sau chiến tranh

    Phần lớn về quê làm ruộng

    Một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm

    Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời

    Đói no tuỳ lúc, tuỳ nơi…

    Thực ra, sau cuộc chiến trở về, trong anh em đồng đội chúng tôi có  nhiều người thành đạt, đã và đang đảm nhận những trọng trách quan trọng do Nhà nước giao phó.

    Như CCB Hồ Xuân Hùng, là người bạn đồng ngũ của tôi ở một tiểu đoàn huấn luyện. Anh nguyên Chủ tịch tỉnh Nghệ An, hiện nay đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

    Anh Hà Văn Thái là đại đội trưởng của tôi ngày nào, sau này là đại tá, Phó Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô. Hiện về nghỉ hưu tại phường Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội,v.v…

    Rồi còn có CCB nguyên là đại biểu Quốc hội, Viện trưởng Viện Máy và Công cụ Công nghiệp là anh Trương Hữu Chí…

    Ngoài ra, còn có nhiều CCB tuy trong mình còn mang rất nhiều vết thương của chiến tranh, nhưng khi vừa rời cây súng, trở về đời thường đã vội cầm bút, ngồi trên các giảng đường đại học, rồi sau đó trở thành những kỹ sư, tiến sĩ, nhà giáo, nhà khoa học và những doanh nhân thành đạt, như anh Vũ Đức Tiến - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất khẩu Cà phê Tây Nguyên. Doanh nghiệp được Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng trong thời kỳ đổi mới, với sản lượng cà phê xuất khẩu chiếm 20% cà phê xuất khẩu của cả nước.

    Cho dù hiện nay thế hệ chúng tôi không còn trẻ nữa, khi về với đời thường mỗi người một phận, sang hèn sướng khổ khác nhau, nhưng tất cả đều luôn nhớ về những người đã cùng một thời "vào sinh ra tử", và rồi phải nằm lại nơi chiến trường xa.

    Từ đó đến giờ đã lâu, lớp bụi thời gian càng phủ dày theo năm tháng, nơi các anh đang nằm lại quá xa, cảnh vật ở đó bây giờ đã khác đi rất nhiều. Nhưng các cựu chiến binh chúng tôi, những người ở khắp mọi miền đất nước đã và đang kiếm tìm, lượm lặt mọi thông tin để cùng gia đình đưa hài cốt các anh về nơi quê nhà yên nghỉ.

    Con số 50 liệt sĩ của trung đoàn 271 đã được tìm về với người thân, dẫu rằng rất ít so với con số liệt sỹ còn nằm ở nơi xa xôi ấy. Nhưng dù sao, đây cũng là phần thưởng không nhỏ cho sự cố gắng không mệt mỏi của Hội CCB chúng tôi.

    Trong những chuyến đi tìm đồng đội ở chiến trường cũ, phải kể đến anh Nguyễn Lâm(1), là Trưởng ban liên lạc CCB của trung đoàn 271 ở phía Bắc.

    Đã có lần anh  đi tìm đồng đội cùng thân nhân liệt sĩ. Cũng có nhiều lần chỉ đi một mình cùng với một vài người trong Hội CCB chúng tôi, để đi đến những vùng đất năm xưa, dò hỏi những manh mối thông tin.

    Trong những chuyến đi đó, cũng có rất nhiều chuyện cảm động, vui, buồn. Đấy là chuyến đi tìm con của mẹ Soi (mẹ của liệt sỹ Nguyễn Văn Thắng).

    Thực ra, khi Thắng hy sinh, đồng đội trong đơn vị đã không tìm thấy thi thể để đem về quy tập. Chúng tôi cứ giấu mẹ mãi chuyện này, nhưng cuối cùng đành thú thực về hoàn cảnh anh hy sinh. Sau nhiều đêm trăn trở, mẹ đề nghị:

    - Các con cho mẹ vào nơi Thắng nó nằm, mẹ muốn thăm

    nơi ấy.

    Anh Lâm thay mặt anh em đưa mẹ vào thăm lại chiến trường xưa. Nơi đó giờ đã thay đổi nhiều. Cánh rừng đại ngàn năm

    xưa của huyện Đắk RLấp, hiện nay là cánh rừng cà phê đang trổ đầy hoa màu trắng. Hương thơm man mát, dịu ngọt lan toả khắp cả một vùng.

    Phải chăng đấy là hương thơm linh thiêng tình mẫu tử, tình đồng đội của Thắng và những người bạn thân yêu đang nằm đâu đó, đang toả ra để đón mẹ và bạn bè đến thăm?

     Lâm chỉ nơi Thắng đã hy sinh, mẹ đứng tần ngần, lặng yên, rồi từ từ ngồi xuống; lặng lẽ rút ra một mảnh vải đỏ.

    Thật bất ngờ, mẹ vun đất lại, bốc từng nắm…, từng nắm… bỏ vào mảnh vải rồi gói lại, sau đó đứng dậy, mắt hướng nhìn về nơi xa xăm ấy, khấn thầm để gọi Thắng về… Nước mắt lưng tròng mẹ đưa gói đất cho Lâm:

    - Con đưa nó về cho mẹ…

    Lâm và mọi người không cầm nổi nước mắt, anh ngậm ngùi làm theo ý mẹ, mang gói đất về thờ tại gia đình - khu tập thể Viện Quân y 108, Vĩnh Tuy (Hai Bà Trưng, Hà Nội).

    Nước mắt nhoà run rẩy bàn tay

    Gói nắm đất nơi anh ngã xuống

    Nâng niu như bế con thời bú mớm

    Mẹ đưa anh về nơi anh sinh ra

    Về đi anh đất đã nở hoa

    Cuộc sống hôm nay có anh trong đó

    Vẫn là anh, mãi thời trai trẻ

    Về đi anh!…Về cho mẹ yên lòng.

    (Bài thơ "Về đi anh" của anh Hoàng Liêm CCB E271

    kính tặng mẹ Soi)

    Nói đến chuyện đi tìm đồng đội của Hội CCB chúng tôi, không thể quên được tấm lòng cao đẹp của anh Cao Phong Nhã, công nhân xưởng URE, Công ty Đạm Hà Bắc, quê ở Xuân An, Xuân Phúc (Yên Dũng, Bắc Giang).

    Khi vừa được nghe thông tin: ở nghĩa trang Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông có tên các liệt sỹ Hiếu, Thoa, Khải, Thành - anh đã vội thông báo ngay với các gia đình liệt sỹ, để rồi sau đó cùng với vợ chồng anh Lâm đến gia đình đón mẹ Tráng (mẹ của liệt sỹ Đỗ Mạnh Hiếu quê Bắc Giang) tức tốc vượt hàng nghìn cây số đến Đắc Nông tìm mộ liệt sỹ.

    Giờ đây, cả chặng dài dằng dặc như vậy, mọi người không thể đi bộ như năm nào được. Muốn đi phải có tiền? Nhưng lấy tiền ở đâu? Gia đình anh còn rất nghèo, nói chi là dư thừa.

    Để có tiền đi được cùng với mẹ Tráng, ban đầu anh lên Công ty trình bày hoàn cảnh để rồi xin ứng hai tháng lương. Nằn nì, cầu cạnh mãi, cuối cùng cơ quan nơi làm việc cũng giải quyết ứng trước cho một tháng lương. Số tiền này không thể đủ trang trải cho chuyến đi được. Không một chút chần chừ, anh gọi người đến bán luôn hai con lợn đang trong thời kỳ lớn nhanh. Tiền vẫn thiếu, cố gắng lục lọi hết mọi thứ trong nhà để bán, nhưng chẳng có thứ gì còn giá trị... Mồ hôi đầy người, ướt đẫm cả chiếc áo lính màu xanh đang mặc. Anh đứng tần ngần một lúc mà không nghĩ ra được phương án giải quyết nào. Bất ngờ, chợt nhớ ra còn một thứ có thể bán được, đó là bốn sào lúa non đang đến thời kỳ trổ bông ở ngoài đồng.

    - Thôi! Mẹ nó và các con thứ lỗi cho bố nhé, bố chỉ bán có hai sào thôi. Biết rằng, mùa này cả nhà ta sẽ đói, mẹ nó và các con ráng chịu vậy. Gia đình ta còn có bố, có mẹ và các con là hạnh phúc lắm rồi. Chứ những người đồng đội của bố, chỉ có một mình bao năm nằm phơi nắng, phơi sương ở giữa rừng sâu không trở về. Bố phải đi vào trong đó để tìm các bạn đây!

    Thật là cao cả thiêng liêng thay tình đồng đội, không có lời nào nói hết được tình cảm cao quý này.

    Chính những hành động, những việc các anh đã làm "vì tình đồng đội", đã thôi thúc tôi cầm bút ghi lại những giờ phút vui, buồn, những tình cảm anh em, đồng đội thân thương trước cái "Sống" cái "Chết" trong những trận chiến đấu với quân thù mà tôi đã chứng kiến. Về những giờ phút cuối cùng của bạn bè tôi trước lúc hy sinh ngã xuống cho sự nghiệp hoà bình, thống nhất nước nhà này.

    Tôi viết cho đồng đội CCB Trung đoàn 271 anh hùng, và những ai đã có một thời tham gia chiến đấu trên các chiến trường năm nào, hiện đang còn sống. Để nhớ về một thời chiến tranh, một thời máu lửa mà cả dân tộc ta đã trải qua.

    Trong những câu chuyện, những sự việc đã xảy ra của tôi và những bạn bè, về một thời trai trẻ ở lứa tuổi hai mươi dưới đây. Sẽ đề cập đến một ít tư liệu của các liệt sỹ, có tên, quê quán và nơi các anh hy sinh mà tôi được biết, để cho những ai quan tâm tới những vấn đề này, khi đọc trong cuốn sách có tên đó, mong rằng: Hãy thông báo cho các gia đình thân nhân liệt sỹ biết.


    Nhắn tin cho tác giả
    Đao Tiến Tuyến @ 12:51 14/06/2009
    Số lượt xem: 1254
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến